TIN TỨC - SỰ KIỆN

HOA PHƯỢNG SẮC THẮM

Kỷ niệm chợt tràn trang lưu bút.
Cánh phượng xưa nay đã đổi màu.
Còn đâu đây hương vương thoang thoảng
Để mỗi lần Hè đến nhớ thật lâu .

Liên kết Webside

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    TRA TỪ ĐIỂM ONLINE


    Tra theo từ điển:



    HOA SEN ĐẤT VIỆT

    Gốc > Nhân vật lịch sử >

    Nguyễn Hữu An

     
    Nguyễn Hữu An
    Tháng Mười, 1926 - 9 Tháng Tư, 1995
    TT Nguyễn Hữu An.jpg

    Thượng Tướng Nguyễn Hữu An
    Tiểu sử
    Nơi sinh Xã Trường Yên, huyện Gia Viễn (Hoa Lư), tỉnh Ninh Bình.
    Binh nghiệp
    Phục vụ Flag of Vietnam.svgViệt Nam
    Thuộc Flag of Vietnam.svg Quân đội Nhân dân Việt Nam
    Năm tại ngũ 1945–1995
    Cấp bậc Vietnam People's Army Colonel General.jpgThượng tướng
    Đơn vị Tiểu đoàn 251
    Trung đoàn 174
    Sư đoàn 1
    Sư đoàn 308
    Quân đoàn 2
    Chỉ huy Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
    Tham chiến Kháng chiến chống thực dân Pháp
    Chiến tranh Việt Nam
    Khen thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất
    2 Huân chương Quân công hạng nhất
    Huân chương Quân công hạng ba
    Huân chương Quân công Giải phóng hạng 3
    2 huân chương Chiến công hạng nhất, hạng nhì
    Huân chương Chiến thắng hạng nhì

    Nguyễn Hữu An (sinh 1926, mất 1995) là một tướng lĩnh quân sự của Quân đội Nhân dân Việt Nam, hàm Thượng tướng. Ông tham gia Kháng chiến chống Pháp, Kháng chiến chống MỹChiến tranh biên giới Tây Nam. Ông là người trực tiếp chỉ huy trận đánh đồi A1 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm 1965, Nguyễn Hữu An lúc đó mang quân hàm thượng tá[1], tham mưu phó mặt trận B3[2] và là người chỉ huy trực tiếp trận đọ sức với quân viễn chinh Mỹ tại thung lũng Ia-Drang năm 1965.

     

    Tiểu sử

    Sinh tháng 10 năm 1926 - Mất ngày 9 tháng 04 năm 1995 [1] tại Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình.

    Năm tham gia cách mạng: Năm 1945.

    Năm nhập ngũ: Tháng 8 năm 1945

    Ngày vào Đảng, chính thức: Tháng 12 năm 1945.

    Năm phong quân hàm cấp tướng: Thiếu tướng năm 1974; Trung tướng năm 1980; Thượng tướng năm 1986.

    Cấp bậc, chức vụ cao nhất: Thượng tướng, Tư lệnh Quân đoàn 2, Phó Tổng thanh tra Quân đội, Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao.

    Ông là một trong những vị tướng Việt Nam đã trực tiếp chỉ huy nhiều trận chiến đấu và chiến thắng quan trọng trong hai cuộc kháng chiến chống Phápchống Mỹ.

    Trong thời kỳ chống Pháp

    Nguyễn Hữu An tham gia và trưởng thành trong quân đội từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông đã trực tiếp chiến đấu và chỉ huy các trận đánh ở đèo Bông Lau, Lũng Phầy năm 1949, trong chiến dịch biên giới năm 1950, ông là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 251 chủ công của trung đoàn 174 (trung đoàn Cao Bắc Lạng) tấn công và tiêu diệt đồn Đông Khê, mở đầu thắng lợi cho chiến dịch. Ông đã lần lượt là tiểu đoàn trưởng, trung đoàn phó trong các trận chiến thắng ở Bình Liêu, Vĩnh Phúc, Mộc Châu... Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là trung đoàn trưởng trung đoàn 174, thuộc đại đoàn 316, ba lần tấn công đồi A1 và sáng 7 tháng 5 năm 1954 trung đoàn 174 dưới sự chỉ huy của ông đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm A1, mở đường đánh vào cánh đồng Mường Thanh, kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ.

    Trong Chiến tranh Việt Nam thời chống Mỹ

    Năm 1964 trên cương vị Sư đoàn trưởng, ông dẫn Sư đoàn 325 vào miền Nam chiến đấu. Vào đến Tây Nguyên, do khó khăn về bảo đảm hậu cần và tình hình thay đổi, sư đoàn 325 phân tán; hai trung đoàn xuống khu 5, chỉ còn trung đoàn 101 ở lại mặt trận Tây Nguyên (mang mã hiệu chiến trường B3), ông làm Phó Tư lệnh B3. Ông đã trực tiếp chỉ đạo và chỉ huy trung đoàn 101 diệt gọn tiểu đoàn biệt động “Cọp đen”, rồi lại đánh thiệt hại nặng trung đoàn 44 chủ lực quân lực Việt Nam Cộng hòa, diệt trung tá trung đoàn trưởng trung đoàn này.

    Năm 1965 Thượng tá Nguyễn Hữu An là tham mưu phó mặt trận B3 và tại đây, tháng 11 năm 1965, ông đã trực tiếp chỉ huy Trận Ia Đrăng, trận đánh nổi tiếng ở thung lũng Ia Đrăng đã tiêu diệt hoàn toàn 1 tiểu đoàn và làm thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn kỵ binh không vận Mỹ. Trận đánh phủ đầu và chiến thắng lực lượng kỵ binh bay của Mỹ khi quân Mỹ vừa vào Việt Nam, một trận thắng mà chính các tướng lĩnh của Mỹ phải thừa nhận "Ia Đrăng - trận đánh đã làm thay đổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam"[3]

    Năm 1971, ông là tư lệnh sư đoàn 308 tham gia chiến đấu và góp phần cùng các đơn vị khác trong chiến thắng ở mặt trận đường 9-Nam Lào. Sau chiến thắng, ông lại được Quân ủy Trung ương điều sang giúp Mặt trận Pa thét Lào chiến đấu lấy lại Cánh đồng Chum. Đến cuối tháng 6 năm 1972, Quân ủy Trung ương lại điều ông chỉ huy sư đoàn 308 chiến đấu ở mặt trận Quảng Trị.

    Trong chiến dịch Hồ Chí Minh

    Năm 1975, Thiếu tướng Nguyễn Hữu An là tư lệnh quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang). Quân đoàn 2 dưới sự chỉ huy của ông đã lần lượt giải phóng tỉnh Quảng Trị, thành phố Huế; và cùng với các lực lượng vũ trang quân khu 5, trong 3 ngày đêm đã đánh bại gần 10 vạn lính chủ lực cơ động của quân đội Việt Nam Cộng hòa tại căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng, sau đó ông đã chỉ huy toàn bộ quân đoàn hành quân gần 1000 km để tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, sau khi tiêu diệt tuyến phòng thủ từ xa của quân đội Sài Gòn tại Phan Rang chỉ trong vòng 24 giờ[4]. Trong trận quyết chiến cuối cùng giải phóng Sài Gòn, Quân đoàn 2 do Nguyễn Hữu An chỉ huy là một trong 5 cánh quân đã nhanh chóng cắm lá cờ đỏ lên nóc dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn, buộc Tổng thống Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện lúc 11 giờ 30 phu'tngày 30 tháng 4 năm 1975.

    Trong Chiến dịch phản công biên giới Tây - Nam Việt Nam

    Cùng với chỉ huy chiến dịch (tướng Lê Trọng Tấn) và các tướng lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam: tướng Kim Tuấn, tướng Lê Đức Anh, tướng Nguyễn Hữu An trực tiếp cùng binh sỹ tham gia chiến dịch.

    Ông là chỉ huy quân đoàn 2 tham gia chiến dịch phản công biên giới Tây - Nam Việt Nam chống quân Khmer Đỏ Pol Pot từ tháng 12 năm 1977 đến khoảng năm 1981.

    Sau chiến tranh

    Ông đã giữ những chức vụ quan trọng trong quân đội như Phó Tổng Thanh tra quân đội, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng và Quyền Tư lệnh Quân khu 2 (1984-1987), Giám đốc Học viện Lục quân (1988-1991), Giám đốc Học viện Quốc phòng (1991-1995).

    Ông được Đại tướng Võ Nguyên Giáp mệnh danh là "Vị tướng trận mạc". Hiện nay, tên ông được đặt cho đường Nguyễn Hữu An ở trung tâm thành phố Ninh Bình.

    Huân chương

    Thượng tướng Nguyễn Hữu An đã được thưởng nhiều huân chương cao quý:

    Nguyễn Hữu An được đặt tên cho một tuyến đường chạy qua phường Ninh Tiến, thành phố Ninh Bình.


    Nhắn tin cho tác giả
    Lưu Quang Trung @ 16:29 01/05/2012
    Số lượt xem: 439
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến